Bảo vệ cổ đông trên lý thuyết!?

Trao đổi với ĐTCK về chỉ số này, theo một số chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), đối tác Việt Nam thực hiện nghiên cứu trên, một trong những lý do của sự giảm hạng là cách đặt vấn đề từ phía WEF theo hướng câu hỏi đánh giá nhận xét cảm tính của các doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là các cải thiện liên quan tới hệ thống quy định pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ cổ đông thiểu số những năm qua, đặc biệt là các quy định tại Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán đã không được xét tới. Nếu như xem xét tới các đánh giá tương tự của Ngân hàng Thế giới trong Báo cáo môi trường kinh doanh những năm qua, Việt Nam cũng luôn bị xếp ở nhóm nước kém nhất về chỉ số này. Năm 2008, vị trí của Việt Nam trong xếp hạng chỉ số bảo vệ nhà đầu tư là 170/181 so với vị trí 165/178 của năm 2007. Có vẻ như hàng loạt quy định rất thuận cho phía nhà đầu tư cũng như các cổ đông thiểu số, như yêu cầu hoạt động chính của công ty phải có sự tham gia của nhà đầu tư, yêu cầu công khai thông tin, đặc biệt là thông về giao dịch của các bên có liên quan… đã không được tính đến. Tất nhiên, đánh giá từ các chuyên gia của CIEM cho rằng, vì đây là một chỉ số đánh giá theo ý kiến chủ quan của đối tượng được phỏng vấn nên có thể không đủ để phản ánh chính xác và đầy đủ bức tranh về vấn đề này ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ của chính những người trả lời, những người tạo nên điểm số thấp cho chỉ số bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số của Việt Nam cho thấy, khoảng cách giữa các quy định và thực tiễn thực hiện vẫn còn khá lớn. Với đánh giá thấp của những người chịu tác động của các quy định pháp luật liên quan, rõ ràng họ chưa nhận được những tác động tích cực mà các nhà hoạch định, xây dựng chính sách muốn mang lại. Hàng loạt vụ việc vừa xảy ra tại Việt Nam liên quan tới những bê bối trong hoạt động của các công ty cổ phần có thể là minh chứng sinh động nhất cho điểm yếu từ thực tiễn hoạt động DN. Hầu hết trong các vụ việc này, nhà đầu tư, đặc biệt là các cổ đông thiểu số, buộc phải gánh chịu những hậu quả lớn nhất trong khi quyền được tham gia ý kiến, được biểu quyết rất hạn chế. Ngay cả những khuyến cáo từ giới nghiên cứu về việc các cổ đông nên sử dụng quyền tập hợp nhóm cổ đông thiểu số nhằm bảo về quyền lợi cho chính mình cũng khó thực hiện khi sự lấn át của cổ đông lớn, cổ đông đa số quá lớn. Trong khi đó, những quy định về bảo vệ nhà đầu tư trước việc giám đốc hay thành viên HĐQT lạm dụng tài sản doanh nghiệp… chưa rõ ràng và rất khó thực hiện trong thực tế. Nhiều ý kiến cũng băn khoăn về năng lực của các nhà đầu tư thiểu số khi họ không khai thác được các quyền lợi mà pháp luật đã trao cho. Rất có thể đây là một trong nhiều lý do khiến các cổ đông thiểu số hầu như đứng ra ngoài, bị động trong mọi hoạt động của DN mà họ là một trong những chủ sở hữu… Tuy nhiên, sau những bình luận về việc các xếp hạng của nhiều tổ chức nghiên cứu quốc tế không chính xác, thiếu cập nhật thông tin…, những khía cạnh thực tiễn cần phải được các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà hoạch định chính sách cân nhắc tới. Khi mà trong vài năm liền, những quy định pháp luật được cho là tích cực và tiệm cận với thông lệ quốc tế không phát huy hiệu quả trong thực tiễn, thì vấn đề không thể chỉ là do cánh nhận xét phiến diện và năng lực của những người được hỏi. Giá trị của các quy định pháp luật chỉ có thể đánh giá đúng trong thực tiễn. Đây là trách nhiệm và phần việc phải làm từ phía các cơ quan liên quan. |
Bảo Duy |
Tin liên quan